Thuyết sở thích nghề nghiệp Holland do nhà tâm lý học người Mỹ John Holland đề xuất, là một trong những khung hướng nghiệp được sử dụng rộng rãi nhất trên quốc tế. Nó chia sở thích nghề nghiệp của con người thành sáu loại (RIASEC): thực tế, nghiên cứu, nghệ thuật, xã hội, doanh nghiệp và quy chuẩn, thông qua việc kết hợp sở thích với môi trường làm việc để tìm ra hướng đi phù hợp cho bản thân.
Bất kỳ hệ thống khám phá bản thân nào, giá trị không nằm ở việc tự phân loại bản thân, mà nằm ở chỗ cung cấp một ngôn ngữ để kiểm tra lại trạng thái của chính mình. Cách dùng được gợi ý là: trước tiên hãy tìm ra Loại khiến bạn có cảm nhận sâu sắc nhất hiện tại, đọc xong rồi chọn một bài tập thực hiện trong hai tuần, sau đó quay lại đối chiếu xem có thay đổi gì không. So với việc đọc hết một lần, cách này dễ thực hiện những thay đổi thực sự hơn.
Đồng thời cũng khuyên bạn nên kết hợp tham khảo từ nhiều góc độ khác nhau: MBTI và Enneagram xuất phát từ sở thích tâm lý, cung hoàng đạo và mệnh lý xuất phát từ biểu tượng văn hóa, còn Sở thích nghề nghiệp Holland cung cấp thêm một tầng quan sát nữa. Khi nhiều góc độ cùng chỉ về một kết luận, thì đó thường là mô hình thực sự của bạn.
| Loại | Từ khóa | Khi mất cân bằng |
|---|---|---|
| Kiểu thực hành | Tự tay làm, nhìn thấy kết quả | Dễ đánh giá thấp tầm quan trọng của giao tiếp và các mối quan hệ nhân sự, cảm thấy làm tốt việc là đủ; cũng có thể vì ưu dùng tính cụ thể, mà cảm thấy thiếu kiên nhẫn với các công việc bắt buộc phải quy hoạch trừu tượng lâu dài. |
| Kiểu nghiên cứu | Muốn hiểu nguyên lý, truy tìm gốc rễ | Dễ phân tích quá mức mà trì hoãn không hành động, hoặc dành thời gian để theo dõi câu trả lời hoàn chỉnh, bỏ lỡ thời điểm nên quyết định; cũng có thể đánh giá thấp tác dụng của các yếu tố cảm xúc và nhân sự. |
| Kiểu nghệ thuật | Cần có không gian thể hiện và tính nguyên bản | Dễ gặp khó khăn về mặt cấu trúc và kỷ luật: Bùng nổ khi có cảm hứng, đình trệ khi không có cảm hứng; cũng có thể vì quá quan tâm đến tính độc đáo, mà khó lòng chấp nhận phần thương mại và thỏa hiệp. |
| Kiểu xã hội | Tương tác với mọi người, giúp mọi người trưởng thành | Dễ gánh vác quá mức cảm xúc và trách nhiệm của người khác, dẫn đến kiệt sức; cũng có thể vì sợ xung đột mà không dám thiết lập ranh giới, đẩy bản thân xuống vị trí cuối cùng. |
| Kiểu doanh nghiệp | Thuyết phục, dẫn dắt, hoàn thành công việc | Dễ nóng vội muốn thành công nhanh, bỏ qua chi tiết và nhịp độ của người khác, cũng có thể vì đạt được mục tiêu mà đơn giản hóa rủi ro trong quá trình và cảm xúc của con người. |
| Kiểu tiêu chuẩn | Làm đúng việc, làm đến nơi đến chốn | Dễ cảm thấy bất an trong môi trường mơ hồ và Biến động nhanh, đồng thời cũng có thể quá phụ thuộc vào quy trình có sẵn mà kháng cự sự thay đổi; chủ nghĩa hoàn haò đôi khi sẽ làm chậm trễ việc ra quyết định. |
Việc sử dụng sai phổ biến nhất của Holland là coi nó thành một nhãn dán đơn lẻ: "Tôi thuộc loại nghệ thuật, cho nên không thể làm hành chính". Thực tế cách làm chuẩn của RIASEC là lấy tổ hợp hai đến ba mã đầu, hơn nữa nó miêu tả sở thích chứ không phải năng lực — sở thích có thể dẫn dắt phương hướng, nhưng năng lực cần dựa vào rèn luyện tích lũy. Việc sử dụng sai thứ hai là lấy nó làm công cụ sàng lọc: lý thuyết này được thiết kế để tư vấn hướng nghiệp, không phù hợp để dùng quyết định tuyển dụng hoặc đánh giá một con người.
So với MBTI, Holland sát với "nội dung công việc" hơn là "tính cách": MBTI cho bạn biết sở thích suy nghĩ và ra quyết định như thế nào, Holland đối chiếu trực tiếp bạn muốn làm việc gì trong môi trường nào. Trên thực tế kết hợp cả hai rất hiệu quả — dùng Holland để chọn hướng (mình muốn làm loại công việc nào), dùng MBTI hoặc Enneagram để hiểu mô hình hòa hợp và phản ứng khi căng thẳng của bản thân trong đội ngũ.
Lý thuyết hướng nghiệp do nhà tâm lý học người Mỹ John Holland đề xuất, chia sở thích nghề nghiệp thành sáu loại thực tế, nghiên cứu, nghệ thuật, xã hội, doanh nghiệp, quy củ. Khái niệm cốt lõi là "sự kết hợp giữa con người và môi trường": khi loại sở thích của bạn phù hợp với tính chất môi trường làm việc, mức độ hài lòng và độ ổn định thường cao hơn.
Có thể, và đây mới là cách bình thường. Cách dùng tiêu chuẩn của RIASEC là lấy tổ hợp từ hai đến ba mã đầu, ví dụ AS (nghệ thuật + xã hội) thích hợp cho công việc sáng tạo mang tính giảng dạy, RI (thực thao + nghiên cứu) thích hợp cho công việc phát triển kỹ thuật. Tổ hợp chuẩn xác hơn nhiều so với một loại đơn lẻ.
Không có nghĩa là vậy. Sở thích mô tả hướng mà bạn sẵn sàng đầu tư, còn năng lực cần được rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm. Sở thích và năng lực đồng điệu là tốn ít sức nhất, nhưng sở thích không đồng nghĩa với thiên bẩm, cũng không nên dùng để giới hạn khả năng của bản thân.
Xác nhận hai ba mã đầu của mình trước, sau đó đối chiếu từ nội dung công việc: Phần lớn thời gian công việc này làm gì, tương tác với ai, kết quả trông thế nào. So sánh "những việc thực tế làm hàng ngày" hiệu quả hơn so sánh chức danh, bởi vì cùng một chức danh ở các công ty khác nhau sự khác biệt rất lớn.